Tỷ giá

Giá vàng

Mua vào Bán ra
 

 
 
VIET NAM
 
NEW HOSPITAL HN 
 
#  PHẪU THUẬT - LASER THẨM MỸ 
 
Email: thommdplastic
@gmail.com
 
Đặt lịch hẹn
 
Kham vaTu van chuyen gia:
11A  173 XUAN THUY TOWER
CAU GIAY - HANOI
Website:

Ho tro

 



Trong nghiên cứu này chúng tôi phân chia thành 2 nhóm bệnh nhân : nhóm1 gồm các bệnh nhân chưa sinh con và nhóm 2 gồm các bệnh nhân đã sinh con. Chúng tôi nhận thấy các bệnh nhân nhóm 1 cần được bảo tồn tuyến vú một cách tối đa , tránh làm tổn thương tới tuyến vú đây là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn đường vào, vi trí đặt túi.

Kết quả phẫu thuật tao hình nâng ngực

bằng túi giọt nước qua 86 bệnh nhân

Ths. Bs Đặng Hoàng Thơm, THs bsNguyễn Thành Hải

I.                  Đặt vấn đề

-Thiểu sản tuyến vú là tình trạng thể tích tuyến vú phát triển không đủ để tương ứng với hình dạng cơ thể . Được thể hiện qua các hình tháI như vú nhỏ từ khi mới sinh( bẩm sinh), sau liệu pháp làm gầy cơ thể hoặc xuất hiện thứ phát sau chửa đẻ và cho con bú.

 -Thiểu sản tuyến vú có thể chỉ là đơn thuần hoặc kết hợp sa trễ và luôn đưa đến sự mất cân bằng giữa sức căng của da với tình trạng lún, sụt của tuyến vú.

- Phẫu thuật tạo hình nâng ngực nhằm mục đích tạo lại hình dáng và thể tích của vú cho  cân đối,  hài hòa và thích hợp với vóc dáng cơ thể.

 - Từ trước tới nay có nhiều chất liệu đã được sử dụng trong nâng ngực mang lại hiệu quả cả về thẩm mỹ và chức năng. Tuy nhiên hiện nay, ngoài xu hướng đòi hỏi tăng lên thể tích vú  phù hợp còn đặc biệt chú trọng tới hình dáng ngực tự nhiên. 

Nghiên cứu  của chúng tôI : Sử dụng chất liệu tạo hình nâng ngực bằng túi giọt nước qua 86 bệnh nhân , nhằm mục đích đánh giá kết quả về mặt thẩm mỹ và chức năng của phương pháp tạo hình đã được áp dụng, đồng thời đưa ra một số chỉ định phù hợp với từng hình tháI ngực.

II.               Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1.      Đối tượng nghiên cứu

-          Qua 86 bệnh nhân thiểu sản tuyến vú được phẫu thuật tạo hình nâng ngực

-          Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2007- 5/2008

-          Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Hòe Nhai Hà nội

2.      Phương pháp nghiên cứu

-Loại hình nghiên cứu: Tiến cứu mô tả

-Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng một  kỹ thuật tạo hình cho các thương tổn khác nhau trên 86 bệnh nhân. Tuỳ vào đặc điểm lâm sàng, tuổi  cũng như mức độ thiểu sản tuyến vú chúng tôi có thể lựa chọn đường vào và vị trí đặt túi khác nhau.

- Tất cả các phẫu thuật được tiến hành dưới mê toàn thân.

III. Kết quả

1.Đặc điểm bệnh nhân

Nghiên cứu của chúng tôI qua 86 bệnh nhân nữ được phẫu thuật nâng ngực , nhỏ tuổi nhất  17 tuổi và lớn tuổi nhất  61 tuổi. Trong đó gặp nhiều nhất ở độ tuổi 22- 42 với 74 trường hợp chiếm 86,05%.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy  Động cơ và mục đích của bệnh nhân tới khám và phẫu thuật nâng ngực hoàn toàn là thẩm mỹ. Nhằm khắc phục, che dấu tình trạng thiểu sản tuyến vú( vú nhỏ) và mong muốn có bộ ngực căng đẹp, tự nhiên và phù hợp với cơ thể. Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất trong nghiên cứu của chúng tôi 17 tuổi, tới phẫu thuật nâng ngực  do thiểu sản một bên vú, mất cân đối so với bên đối diện phát triển bình thường. Với hi vọng phẫu thuật sẽ mang lại sự cân đối hai bên vú, trả lại sự tư tin đối với bản thân và xóa đi mặc cảm .

   2. §Æc ®iÓm h×nh th¸I l©m sµng

H×nh th¸I l©m sµng

C©n ®èi

Sa trÔ

Sè BN (N)

Tû lÖ%

ThiÓu s¶n tuyÕn vó bÈm sinh

1 bªn

2

 

 

 

2 bªn

 

 

 

 

TSTV sau chöa ®Î vµ cho con bó

1 bªn

 

 

 

 

2 bªn

 

 

 

 

Vó nhá so víi yªu cÇu

 

 

 

 

 

Tæng sè

 

 

 

 

100%

3.Chiều dầy da và tổ chức dưới da phần Sergment 1

Chiều dầy da và tổ chức dưới da

Số BN (N)

Tỷ lệ%

Nhỏ hơn 2cm

72

83,72

Lớn hơn 2cm

14

16,28

Tổng số

86

100%

3. Vị trí đặt túi

Vị trí đặt túi

Số BN (n)

Tỷ lệ%

Dưới tuyến vú

10

11,63

Dưới cơ ngực lớn

76

88,37

Tổng số

86

100%

4.Đường vào khoang đặt túi

Đường vào khoang đặt túi

Số BN (n)

Tỷ lệ (%)

Quầng vú

68

79,07

Nếp lằn vú

10

11,63

Nách

8

9,30

Tổng số

86

100%

 

IV.Bàn luận

Trong nghiên cứu này chúng tôi phân chia thành 2 nhóm bệnh nhân : nhóm1 gồm các bệnh nhân chưa sinh con và nhóm 2 gồm các bệnh nhân đã sinh con. Chúng tôi nhận thấy các bệnh nhân nhóm 1 cần được bảo tồn tuyến vú một cách tối đa , tránh làm tổn thương tới tuyến vú đây là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn đường vào, vi trí đặt túi.

Hình thái lâm sàng lồng ngực các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi rất đa dạng: ngắn, dài,  rộng hoặc nhô ra trước đôi khi kèm theo các di tật như u sụn lành tính gồ lên so với xung quanh. Với các di tật này nếu dùng túi tròn sẽ khó khắc phục và che dấu được. Nhưng do đặc điểm túi ngực hình giọt nước phần trên dài, mỏng và phần dưới ngắn dầy sẽ dễ dàng khắc phục được nhược điểm đó mà còn tạo được dáng tự nhiên của vú, đây là ưu điểm nổi bật của túi nâng ngực hình giọt nước so với túi tròn.

Trong tạo hình nâng ngực việc đánh giá sức căng của da vùng ngực, mức độ mất cân bằng giữa da, tổ chức dưới da với tuyến vú và đặc biệt  chiều dầy của da- tổ chức dưới da vùng ngực là rất quan trọng. Đó là yếu tố quyết định tới việc lựa chọn vị trí khoang đặt túi. Nghiên cứu chúng tôi nhận thấy với các bệnh nhân  gầy, sức căng da ( mức độ dàn hồi da ) kém , chiều dầy da- tổ chức phần mềm vùng trên ngực nhỏ dưới 2 cm, mất cân bằng giữa da và tuyến vú nếu đặt túi dưới tuyến sẽ dễ gây lộ túi , sờ thấy túi và tăng nguy cơ hình thành bao xơ quanh tuyến vú. Nhất là với bệnh nhân đăt túi kích thước lớn, chơi thể thao( tennis) càng tăng nguy cơ sa trễ da , tuyến và túi ngực- biểu hiện bằng tình trạng giãn rộng quầng vú, sa trễ thứ phát. Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy với chiều dầy da và tổ chức dưới da vùng trên ngực nhỏ hơn 2cm nên đặt túi dưới cơ ngực tránh nguy cơ sờ thấy túi, sa trễ thứ phát

Vị trí đặt túi:

Vị trí đặt túi quyết định tới thành công của phẫu thuật nâng ngực. Về mặt nguyên tắc chúng ta có thể đặt túi dưới cơ ngực hoặc dưới tuyến vú nếu chiều dầy da và tuyến đủ lớn. Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nếu đặt túi giọt nước ở dưới tuyến vú  dễ bị xoay túi, dễ gây kích thích và tăng nguy cơ hình thành bao xơ, … điều này khó thấy khi đặt túi hình tròn. Mặt khác khi đặt túi ngực hình giọt nước dưới cơ ngực , túi được cố định chắc chắn bởi lống ngực phía trong- xung quanh là cơ ngực nên hạn chế tối đa khả năng xoay túi ngưc, hơn nữa túi nằm dưới cơ ngực mà cơ ngực luôn hoạt động khi chúng ta vận động , vậy nên khi đó cơ ngực như máy mát xa cơ học luôn xoa nhẹ trên bệ mặt túi giúp cho tránh được hiện tượng hình thành bao xơ.

Đường vào khoang đặt túi:

Chúng tôi chỉ lựa chọn đường vào khoang đặt túi nâng ngực hình giọt nước sau khi khám lâm sàng, đánh giá tình trạng thiểu sản tuyến, mức độ sa trễ, sức căng của da và tổ chức dưới da, đã sinh con hoặc chưa sinh con …và đường sẹo mong muốn đối với bệnh nhân.

+ Với bệnh nhân chưa sinh con, thường là vú nhỏ bẩm sinh hoặc vú nhỏ so với yêu cầu, chúng tôi sử dụng cả 3 đường vào khác nhau: đường nách, đường quầng vú hoặc đường nếp lằn vú. Đường vào khoang đặt túi chúng tôi sử dụng nhều nhất trong trường hợp này là đường nếp lằn vú vì qua đường này tuyến vú được bảo tồn hoàn toàn, độ đàn hồi của da tốt( vì bệnh nhân trẻ tuổi) nên sẹo gần như không rõ và nằm hoàn toàn trong rãnh tự nhiên là nếp lằn vú. Khi sử dụng đường nách thường có xu hướng kéo túi lên phía trên và xoay túi.

+Với bệnh nhân thiểu sản tuyến vú sau sinh, thường có hiện tượng mất cần bằng giữa sức căng của da và tình trạng thiểu sản của tuyến vú, đôi khi kèm theo tình trạng dư thừa da, vú sa trễ độ1. Đường vào chúng tôi lựa chọn đặt túi hình giọt nước là đường quầng vú, bởi tính ưu việt của nó như đường vào đủ rộng , kiểm soát toàn diện khoang đặt  túi, tách điểm bám cơ ngực lớn dễ dàng, căn chỉnh hướng trục của túi chính xác.

 
 
 
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ
PHẪU THUẬT THẨM MỸ NEW HOSPITAL HN
Đang truy cập : 6
Lượt truy cập : 105072